Cập nhật lần cuối:

Đại tướng Lê Trọng Tấn (01/10/1914 - 17/03/1986)

Nhà quân sự kiệt xuất - Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam

Đại tướng Lê Trọng Tấn (tên thật là Lê Ngọc Nhớ) là một trong những nhà lãnh đạo quân sự kiệt xuất hàng đầu của Quân đội Nhân dân Việt Nam, người đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc.[1] Với tài năng chỉ huy xuất sắc, tư duy chiến thuật nhạy bén và tầm nhìn chiến lược sâu rộng, ông để lại dấu ấn đậm nét trong nhiều chiến dịch quan trọng của cả hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.[2]

Sinh ngày 1 tháng 10 năm 1914 tại làng Nghĩa Lộ, xã Yên Nghĩa, huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Đông (nay thuộc phường Yên Nghĩa, quận Hà Đông, Hà Nội), ông sớm tiếp thu tinh thần yêu nước và tham gia hoạt động cách mạng từ thời kỳ Mặt trận Dân chủ (1936-1939), kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương năm 1944.[3] Từ một cán bộ chỉ huy du kích, ông đã trưởng thành qua thực tiễn chiến đấu, trở thành vị tướng tài ba của Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Đại tướng Lê Trọng Tấn. Ảnh: Báo Nhân Dân
Đại tướng Lê Trọng Tấn. Ảnh: Báo Nhân Dân

🎖️ Điểm đặc biệt nổi bật

Đại tướng Lê Trọng Tấn được mệnh danh là "Zhukov của Việt Nam" hay vị tướng của những quyết định táo bạo, tốc độ:

  • 🎯 Tốc độ và táo bạo - Người chỉ huy luôn quán triệt và thực hiện hoàn hảo phương châm "Thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng".
  • ⚡ Bậc thầy tổ chức chiến dịch lớn - Có khả năng điều hành, phối hợp các quân binh chủng phức tạp trên quy mô chiến trường lớn một cách nhịp nhàng, chính xác.
  • 💪 Tiến công kiên quyết - Luôn chọn hướng tiến công hiểm hóc, chủ động tạo thời cơ và chớp thời cơ để đè bẹp đối phương.
  • 🏆 Cánh quân mở cửa Dinh Độc Lập - Chỉ huy Cánh quân phía Đông tiến thẳng vào trung tâm Sài Gòn, cắm cờ chiến thắng lên Dinh Độc Lập trưa ngày 30/4/1975.

1. Kháng chiến chống Pháp - Khẳng định tài năng chỉ huy

Người chỉ huy Đại đoàn 312

Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, Đại tướng Lê Trọng Tấn đảm nhiệm trọng trách Đại đoàn trưởng đầu tiên của Đại đoàn 312 (Đại đoàn Chiến thắng) khi mới 36 tuổi. Dưới sự chỉ huy của ông, Đại đoàn 312 đã ra quân trận đầu thắng lớn tại Chiến dịch Biên giới năm 1950.[4]

Chiến công Điện Biên Phủ

Tại Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954, Đại đoàn 312 dưới sự chỉ huy của Lê Trọng Tấn được giao nhiệm vụ đánh trận mở màn vào cứ điểm Him Lam (13/3/1954). Trong trận tiến công quyết định ngày 7/5/1954, chính các chiến sĩ thuộc Đại đoàn 312 đã bắt sống Tướng De Castries và toàn bộ Bộ Tham mưu Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, cắm cờ "Quyết chiến Quyết thắng" trên nóc hầm chỉ huy của địch.[5]

"Đồng chí Lê Trọng Tấn là một trong những cán bộ chỉ huy quân sự xuất sắc nhất của Quân đội ta, can đảm, sáng tạo, luôn có mặt ở những nơi khó khăn nhất, quyết liệt nhất."

— Đại tướng Võ Nguyên Giáp

2. Kháng chiến chống Mỹ - Đỉnh cao nghệ thuật quân sự

Chiến trường Miền Nam & Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào 1971

Trong kháng chiến chống Mỹ, ông giữ vị trí Phó Tư lệnh Quân giải phóng miền Nam Việt Nam, đồng thời là Tư lệnh nhiều chiến dịch lớn. Năm 1971, ông làm Tư lệnh Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, đập tan cuộc hành quân "Lam Sơn 719" của Mỹ - Ngụy, bảo vệ vững chắc tuyến đường tiếp viện chiến lược Trường Sơn.[6]

Chỉ huy Chiến dịch Huế - Đà Nẵng (3/1975)

Tháng 3 năm 1975, Trung tướng Lê Trọng Tấn được giao làm Tư lệnh Chiến dịch giải phóng Thừa Thiên Huế - Đà Nẵng. Với tinh thần tiến công mãnh liệt, ông đã chỉ huy các lực lượng giải phóng Đà Nẵng – căn cứ quân sự liên hợp lớn thứ hai của địch – chỉ trong vòng 3 ngày, tạo tiền đề quyết định cho trận tổng tiến công cuối cùng.[7]

TƯ LỆNH CÁNH QUÂN PHÍA ĐÔNG - TIẾN THẲNG VÀO SÀI GÒN

Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, Trung tướng Lê Trọng Tấn được bổ nhiệm làm Tư lệnh Cánh quân phía Đông (gồm Quân đoàn 2, Quân đoàn 4 và các đơn vị phối thuộc).[8]

Ông đã đề xuất và được Bộ Chỉ huy chiến dịch chấp thuận cho Cánh quân phía Đông nổ súng trước 1 ngày (ngày 26/4/1975) để khắc phục cự ly xa hơn các hướng khác. Dưới sự chỉ huy thần tốc của ông, Cánh quân phía Đông đã đập tan tuyến phòng thủ Xuân Lộc, nhanh chóng vượt sông Đồng Nai tiến thẳng vào nội đô Sài Gòn.[9]

Lực lượng thuộc Cánh quân phía Đông (Quân đoàn 2) đã tiến vào Dinh Độc Lập, bắt sống toàn bộ bộ sậu chính quyền Sài Gòn và buộc Tổng thống Dương Văn Minh phải tuyên bố bố hàng không điều kiện vào trưa ngày 30/4/1975.[10]

3. Xây dựng và Bảo vệ Tổ quốc thời hòa bình

Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam

Từ tháng 12 năm 1978 đến khi từ trần năm 1986, ông đảm nhiệm trọng trách Thứ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam.[11] Ông đã chỉ huy trực tiếp lực lượng vũ trang trong cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc của Tổ quốc, đồng thời làm tròn nghĩa vụ quốc tế giúp nhân dân Campuchia thoát khỏi thảm họa diệt chủng.

Năm 1984, ông được Đảng và Nhà nước thăng cấp bậc quân hàm Đại tướng.[12] Trong suốt những năm tháng đảm nhiệm vị trí lãnh đạo quân đội, ông có nhiều đóng góp to lớn trong công cuộc hiện đại hóa quân đội và phát triển khoa học nghệ thuật quân sự Việt Nam.

4. Di sản và Ý nghĩa lịch sử

Đại tướng Lê Trọng Tấn đột ngột qua đời ngày 17 tháng 3 năm 1986 tại Hà Nội, thọ 72 tuổi.[13] Sự ra đi của ông là một tổn thất to lớn đối với Đảng, Nhà nước, Quân đội và Nhân dân Việt Nam.

Do những cống hiến đặc biệt xuất sắc cho sự nghiệp cách mạng, Đại tướng Lê Trọng Tấn đã được Đảng và Nhà nước truy tặng nhiều danh hiệu cao quý:

  • Huân chương Sao Vàng (huân chương cao quý nhất)
  • Huân chương Hồ Chí Minh
  • Huân chương Quân công hạng Nhất
  • Huân chương Chiến thắng hạng Nhất
  • Cùng nhiều huân, huy chương cao quý khác trong nước và quốc tế

Tên của Đại tướng Lê Trọng Tấn hiện nay được đặt cho nhiều tuyến đường, đại lộ huyết mạch và trường học lớn tại các thành phố trọng điểm như Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng,...[14]

5. Kết luận

Đại tướng Lê Trọng Tấn là một trong những vị tướng tài ba, đức độ nhất của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Ông không chỉ là người chỉ huy quyết đoán, giàu tính sáng tạo ở chiến trường mà còn là một nhà chiến lược quân sự sắc bén, có tầm nhìn xa trông rộng. Tên tuổi của ông gắn liền với những chiến công vang dội nhất trong lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc của thế kỷ 20.

Tài liệu tham khảo

  1. Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam (2014). Đại tướng Lê Trọng Tấn - Nhà quân sự kiệt xuất của cách mạng Việt Nam. NXB Quân đội Nhân dân, Hà Nội.
  2. Bộ Tổng Tham mưu Quân đội Nhân dân Việt Nam (2015). Lịch sử Bộ Tổng Tham mưu Quân đội Nhân dân Việt Nam (1945 - 2015). NXB Quân đội Nhân dân, Hà Nội.
  3. Ban Chấp hành Đảng bộ Quận Hà Đông (2010). Lịch sử Đảng bộ phường Yên Nghĩa. NXB Hà Nội.
  4. Bộ Tư lệnh Quân đoàn 12 (2021). Lịch sử Sư đoàn 312 (1950 - 2020). NXB Quân đội Nhân dân, Hà Nội.
  5. Võ Nguyên Giáp (2004). Điện Biên Phủ - Điểm hẹn lịch sử. NXB Quân đội Nhân dân, Hà Nội.
  6. Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam (2001). Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào 1971: Tầm vóc, ý nghĩa và bài học lịch sử. NXB Quân đội Nhân dân, Hà Nội.
  7. Bộ Tư lệnh Quân khu 5 (2005). Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước của Quân khu 5 (1954 - 1975). NXB Quân đội Nhân dân, Hà Nội.
  8. Văn Tiến Dũng (1976). Đại thắng mùa Xuân 1975. NXB Quân đội Nhân dân, Hà Nội.
  9. Bộ Tư lệnh Quân đoàn 2 (2004). Quân đoàn 2 - Cánh quân phía Đông trong Chiến dịch Hồ Chí Minh. NXB Quân đội Nhân dân, Hà Nội.
  10. Lê Trọng Tấn (1985). "Nghệ thuật tổ chức và chỉ huy Cánh quân phía Đông trong Chiến dịch Hồ Chí Minh". Tạp chí Lịch sử Quân sự, số 4/1985.
  11. Ban Tuyên giáo Trung ương (2014). Đề cương Tuyên truyền kỷ niệm 100 năm Ngày sinh Đại tướng Lê Trọng Tấn (01/10/1914 - 01/10/2014). Hà Nội.
  12. Hội đồng Nhà nước (1984). Lệnh số 53-LCT về việc thăng quân hàm từ Trung tướng lên Đại tướng cho đồng chí Lê Trọng Tấn, ngày 29 tháng 12 năm 1984.
  13. Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Quốc phòng (1986). "Thông cáo đặc biệt về việc Đại tướng Lê Trọng Tấn từ trần". Báo Nhân Dân, số ra ngày 18/03/1986.
  14. Ủy ban Nhân dân Thành phố Hà Nội (2008). Ngân hàng tên đường, phố và công trình công cộng trên địa bàn Thành phố Hà Nội.